Jun 12, 2009

Mã vạch và Phân loại mã vạch

MÃ VẠCH LÀ GÌ?
Mã vạch (Barcode) theo định nghĩa là phương pháp lưu trữ và truyền tải thông tin bằng một lọai ký hiệu gọi là ký mã vạch (Barcode symbology). Ký mã vạch hay gọi tắt cũng là mã vạch, là 1 ký hiệu tổ hợp các khoảng trắng và vạch thẳng để biểu diễn các mẫu tự, ký hiệu và các con số. Sự thay đổi trong độ rộng của vạch và khoảng trắng biểu diễn thông tin số hay chữ số dưới dạng mà máy có thể đọc được.

Mã số mã vạch được thu nhận bằng một máy quét mã vạch, là một máy thu nhận hình ảnh của mã vạch in trên các bề mặt và chuyển thông tin chứa trong mã vạch đến máy tính hay các thiết bị cần thông tin này. Nó thường có một nguồn sáng kèm theo thấu kính, để hội tụ ánh sáng lên mã vạch, rồi thu ánh sáng phản xạ về một cảm quang chuyển hóa tín hiệu ánh sáng thành tín hiệu điện. Ngoài ra, nhiều máy quét mã vạch còn có thêm mạch điện tử xử lý tín hiệu thu được từ cảm quang để chuyển thành tín hiệu phù hợp cho kết nối với máy tính.

CÓ BAO NHIÊU LỌAI MÃ VẠCH?

Có thể nói mã vạch cũng giống như một đạo quân các ký hiệu quen thuộc, chúng xuất hiện ở khắp mọi nơi, mọi chỗ, trên hầu hết các sản phẩm lưu hành hợp pháp trên thị trường. Ai cũng đều thấy chúng nhưng ít ai hiểu được nhiều về chúng. Nhưng vì nghĩ mã vạch là “vô thưởng vô phạt” nên cũng chẳng ai quan tâm đến chúng cả. Khi được hỏi về mã vạch, đa số người ta chỉ biết mã vạch là … mã vạch. Nó mã hóa một con số gì đó mà người ta không hiểu. Nói như vậy nghiễm nhiên mã vạch chỉ có một lọai duy nhất là … mã vạch và nó được sử dụng để lưu trữ 1 con số gì đó như giá tiền chẳng hạn.
Thực ra mã vạch gồm nhiều chủng lọai khác nhau. Tùy theo dung lượng thông tin, dạng thức thông tin được mã hóa cũng như mục đích sử dụng mà người ta chia ra làm rất nhiều lọai, trong đó các dạng thông dụng trên thị trường mà ta thấy gồm UPC, EAN, Code 39, Interleaved 2of 5, Codabar và Code 128. Ngoài ra, trong 1 số loại mã vạch người ta còn phát triển làm nhiều Version khác nhau, có mục đích sử dụng khác nhau, thí dụ UPC có các version là UPC-A, UPC-B, UPC-C, UPC-D và UPC-E; EAN có các version EAN-8, EAN-13, EAN-14, Code 128 gồm Code 128 Auto, Code 128-A, Code 128-B, Code 128-C.

UPC (Universal Product Code)

UPC là 1 lọai ký hiệu mã hóa số được ngành công nghiệp thực phẩm ứng dụng vào năm 1973. Ngành công nghiệp thực phẩm đã phát triển hệ thống này nhằm gán mã số không trùng lặp cho từng sản phẩm. Người ta sử dụng UPC như “giấy phép bằng số” cho các sản phẩm riêng lẽ.

UPC gồm có 2 phần: phần mã vạch mà máy có thể đọc được và phần số mà con người có thể đọc được.
Số của UPC gồm 12 ký số, không bao gồm ký tự. Đó là các mã số dùng để nhận diện mỗi một sản phẩm tiêu dùng riêng biệt

Nhìn ký hiệu UPC như hình bên ta thấy tổng cộng gồm 12 ký số:
Ký số thứ 1: Ở đây là số 0, gọi là ký số hệ thống số (number system digit) hoặc còn gọi là “Family code”. Nó nằm trong phạm vi của 7 con số định rõ ý nghĩa và chủng lọai của sản phẩm như sau:

* 5 - Coupons: Phiếu lĩnh hàng hóa
* 4 - Dành cho người bán lẽ sử dụng
* 3 - Thuốc và các mặt hàng có liên quan đến y tế.
* 2 - Các món hàng nặng tự nhiên như thịt và nông sản.
* 0, 6, 7 - Gán cho tất cả các mặt hàng khác như là một phần nhận diện của nhà sản xuất.

Năm ký số thứ 2: Trong mẫu này, tượng trưng là 12345, ám chỉ mã người bán (Vendor Code), mã doanh nghiệp hay mã của nhà sản xuất (Manufacturer code). Ở Hoa kỳ, mã này được cấp bởi hiệp hội UCC (The Uniform Code Council) và mã được cấp cho người bán hoặc nhà sản xuất là độc nhất. Như vậy khi hàng hóa lưu thông trên thị trường bằng mã UPC thì chỉ cần biết được 5 ký số này là có thể biết được xuất xứ của hàng hóa.

Năm ký số kế tiếp: Dành cho người bán gán cho sản phẩm của họ. Người bán tự tạo ra 5 ký số này theo ý riêng của mình để mã hóa cho sản phẩm .

Ký số cuối cùng: Ở đây là số 5, là ký số kiểm tra, xác nhận tính chính xác của tòan bộ số UPC

UPC được phát triển thành nhiều phiên bản (version) như UPC-A, UPC-B, UPC-C, UPC-D và UPC-E trong đó UPC-A được coi như phiên bản chuẩn của UPC, các phiên bản còn lại được phát triển theo những yêu cầu đặc biệt của ngành công nghiệp.

Mã UPC vẫn còn đang sử dụng ở Hoa Kỳ và Bắc Mỹ

EAN (European Article Number)

EAN là bước phát triển kế tiếp của UPC. Về cách mã hóa nó cũng giống hệt như UPC nhưng về dung lượng nó gồm 13 ký số trong đó 2 hoặc 3 ký số đầu tiên là ký số “mốc”, dùng để biểu thị cho nước xuất xứ. Các ký số này chính là “mã quốc gia” của sản phẩm được cấp bởi Tổ chức EAN quốc tế (EAN International Organization)

EAN này được gọi là EAN-13 để phân biệt với phiên bản EAN-8 sau này gồm 8 ký số.

Theo ký hiệu EAN-13 như hình vẽ phía trên, có thể phân chia như sau:
* 893 - Mã quốc gia Việt Nam
* 123456789 - 9 ký số này được phân chia làm 2 cụm: cụm mã nhà sản xuất có thể 4, 5 hoặc 6 ký số tùy theo được cấp, cụm còn lại là mã mặt hàng.
* 7 - Mã kiểm tra tính chính xác của tòan bộ số EAN.

EAN có một biến thể khác của nó là JAN (Japaneses Artical Numbering), thực chất là EAN của người Nhật với mã quốc gia là 49.

Vì EAN phát triển với mã quốc gia nên nó được sử dụng trên những sản phẩm lưu thông trên tòan cầu. Các tiêu chuẩn của EAN do Tổ chức EAN quốc tế quản lý. Ở Việt Nam, các doanh nghiệp muốn sử dụng được mã EAN trên sản phẩm của mình, phải là thành viên của Tổ chức Mã Số Mã Vạch Việt Nam, gọi tắt là EAN Việt Nam, để được cấp mã số doanh nghiệp.

Code 39

UPC và EAN dù là 2 lọai mã vạch có tính chất chuyên nghiệp và quốc tế nhưng khuyết điểm của nó là dung lượng có giới hạn và chỉ mã hóa được số, không mã hóa được chữ.

Code 39 được phát triển sau UPC và EAN là ký hiệu chữ và số thông dụng nhất. Nó không có chiều dài cố định như UPC và EAN do đó có thể lưu trữ nhiều lượng thông tin hơn bên trong nó. Do tính linh họat như vậy, Code 39 được ưa chuộng rộng rãi trong bán lẻ và sản xuất. Bộ ký tự này bao gồm tất cả các chữ hoa, các ký số từ 0 đến 9 và 7 ký tự đặc biệt khác.

Nhiều tổ chức đã chọn một dạng thức Code 39 để làm chuẩn công nghiệp của mình trong đó đáng chú ý là Bộ Quốc Phòng Mỹ đã lấy Code 39 làm bộ mã gọi là LOGMARS.

INTERLEAVED 2 OF 5

Interleaved 2 of 5 là một lọai mã vạch chỉ mã hóa ký số chứ không mã hóa ký tự. Ưu điểm của Interleaved 2 of 5 là nó có độ dài có thể thay đổi được và được nén cao nên có thể lưu trữ được nhiều lượng thông tin hơn trong một khỏang không gian không lớn lắm


Interleaved 2of 5

Theo 2 mẫu trên, ta thấy rằng cùng 1 tỷ lệ barcode, khi lưu 20 ký số vào trong Interleaved 2 of 5, ta được 1 ký hiệu barcode nhỏ gọn bằng 1/2 so với khi lưu 20 ký số vào trong Code 39.

Các lọai Barcode thông dụng khác

Codabar Code 93


Code 128-A HIBC

Các loại Barcode 2D

Người dùng mã vạch ngày càng quan tâm đến mã vạch 2 chiều (2D Barcode) vì nhận ra những đặc tính độc đáo của nó không có mặt trong các ký hiệu tuyến tính truyền thống. Ký hiệu 2 chiều nhằm vào ba ứng dụng chính:

  1. Sử dụng trên các món hàng nhỏ: Nếu in mã vạch tuyến tính, tức là các lọai mã vạch 1D thông dụng, trên các món hàng nhỏ thì thường gặp trở ngại về kích thước của mã vạch vẫn còn quá lớn so với các món hàng cực nhỏ. Với sự phát triển của mã vạch 2 chiều người ta có thể in mã vạch nhỏ đến mức có thể đặt ngay trên món hàng có kích thước rất nhỏ.
    Nội dung thông tin: Công nghệ 2 chiều cho phép mã hóa 1 lượng lớn thông tin trong một diện tích nhỏ hẹp. Cả lượng thông tin lưu trong cùng một ký hiệu mã vạch 2D có thể coi như là 1 file dữ liệu nhỏ gọn (trong ngành gọi là PDF - Portable Data File). Do đó khi sử dụng lọai mã 2D, có thể không cần đến CSDL bên trong máy vi tính.

  2. Quét tầm xa: Khi sử dụng các ký hiệu 2D, máy in không đòi hỏi in ở độ phân giải cao mà có thể in ở độ phân giải thấp vì trong ký hiệu 2D, các mảng điểm (pixel) hoặc các vạch (bar) rất lớn. Điều này dẫn đến việc cho phép quét mã vạch 2D ở 1 khỏang cách xa lên đến 50 feet (khoảng 15m)

Các ký hiệu barcode 2D có thể được chia làm 2 loại:

1/ Loại mã xếp chồng (Stacked Codes): như Code 16K, Code 49, PDF-417


Code 16K PDF-417 Code 49
(Với 2 “chồng” lưu trữ được 14 ký số) (18 digits cho 1 kích thước rất nhỏ) (2 “chồng lưu được 15 digits)

2/ Loại mã ma trận (Matrix Codes): như Data Matrix, Maxicode,Softstrip, Vericode, …..

Với Data Matrix như thế này đây, khi giải mã các bạn sẽ được một đoạn văn như sau:
” Cac ban co tin la toi co the viet 1 quyen truyen bang ma vach khong? ”
Thật kinh khủng nếu ai đó viết 1 quyển truyện bằng mã vạch, lúc đó mỗi câu văn hoặc mỗi đoạn văn sẽ là ….. 1 mã ma trận. Với sự phát triển của mã ma trận, ta thấy rằng ngành mã vạch đã thực sự phát triển theo một hướng khác: Cơ sở dữ liệu. Một ngày nào đó, bạn sẽ có trong tay một chiếc đĩa mềm, hoặc Flashdisk trong đó chỉ toàn là các mã ma trận lưu trữ danh sách của các VIP mà không sợ bị các Hacker bẻ khoá. Vì chỉ có máy quét mới có thể “bẻ khoá” được mã vạch, hơn nữa không phải máy quét nào cũng đọc được mã ma trận.

MÃ VẠCH ĐƯỢC ỨNG DỤNG ĐỂ MÃ HOÁ NHỮNG GÌ?

Có thể mã hoá đủ loại thông tin thành mã vạch. Ví dụ:
1. Số hiệu linh kiện (Part Numbers)
2. Số nhận diện người bán, nhận diện nhà sản xuất, doanh nghiệp (Vendor ID Numbers, ManufactureID Numbers)
3. Số hiệu Pallet (Pallet Numbers)
4. Nơi trữ hàng hoá
5. Ngày nhận
6. Tên hay số hiệu khách hàng
7. Giá cả món hàng
8. Số hiệu lô hàng và số xê ri
9. Số hiệu đơn đặt gia công
10. Mã nhận diện tài sản
11. Số hiệu đơn đặt mua hàng
v.v….

Một khi công ty đã xác định xong thông tin cần mã hoá, bước tiếp theo là xác định loại mã vạch thích hợp, kích thước của mã vạch, công nghệ mã hoá thông tin và công nghệ in thích hợp nhất.

Bảng dưới đây mô tả công dụng mã hoá của các loại mã vạch thông dụng:

Loại mã vạch Ngành nghề sử dụng Lý do
UPC 4Công nghiệp thực phẩm
4Các nhà buôn bán lẻ
4Sử dụng ở Bắc Mỹ và Canada
4Cần mã số chứ không cần mã chữ
4Mật độ cao, đáng tin cậy.
4Cần mã kiểm lỗi
EAN 4Giống như UPC
4Sử dụng cho các nước khác không thuộc Bắc Mỹ
4Giống như trên
Code 39 4Bộ Quốc phòng
4Ngành y tế
4Công nghiệp nhôm
4Các nhà xuất bản sách định kỳ
4Các cơ quan hành chánh
4Cần mã hoá cả chữ lẫn số
4Dễ in.
4Rất an toàn, không có mã kiểm lỗi
Interleaved
2of 5
4Phân phối, lưu kho
4Các sản phẩm không phải là thực phẩm
4Các nhà sản xuất, nhà buôn bán lẻ.
4Hiệp hội vận chuyển Container
4Dễ in.
4Kích thước nhỏ gọn
Codabar 4Ngân hàng máu
4Thư viện
4Thư tín chuyển phát nhanh trong nước.
4Công nghiệp xử lý Film ảnh
4Rất an toàn.
4Dày dặt
Code 128 4Công nghiệp chế tạo
4Vận chuyển Container
4Cần dung lượng 128 ký tự

Trên đây là bảng tham khảo, bạn cần xem thêm ở mục Hỏi và Đáp.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ TẠO RA ĐƯỢC MÃ VẠCH?

Lẽ dĩ nhiên câu trả lời là “phần mềm và máy in” nhưng vấn đề là phần mềm gì và máy in gì. Nhưng dù gì đi nữa thì tôi khuyên các bạn trẻ nên bỏ đi cái ý tưởng nếu có, tạo mã vạch bằng …… Autocad, hoặc vẽ bằng CorelDraw!

Để in ra mã vạch, bạn cần phải xác định mã vạch sẽ được in vào đâu, với mục đích sử dụng như thế nào:

  • Nếu bạn muốn in mã vạch trên văn bản, giấy tờ, tài liệu thì bạn có thể sử dụng các phần mềm thông dụng như Word, Excel (trong một điều kiện đặc biệt), Corel Draw, v.v…. hoặc 1 phần mềm hỗ trợ in barcode. Cách in như thế nào bạn có thể xem trong mục “phần mềm” của website này để được hướng dẫn cơ bản.

  • Nếu bạn là nhà sản xuất hàng hoá và muốn in mã vạch lên trực tiếp bao bì của sản phẩm thì không có gì để nói vì lúc đó mã vạch sẽ là 1 phần trong kiểu dáng nói chung của bao bì sản phẩm, nó sẽ được in bằng công nghệ in bao bì (thường là in Offset).

  • Nếu bạn muốn in mã vạch lên nhãn và dán lên sản phẩm để lưu hành trên thị trường với số lượng rất nhiều như trong các khu công nghiệp chẳng hạn thì bạn nên dùng công nghệ in nhãn chuyên nghiệp. Công nghệ này bao gồm máy in nhãn chuyên nghiệp (Label Printer hay barcode printer) và phần mềm in nhãn chuyên nghiệp. Bạn không nên dùng các phần mềm văn phòng và các máy in văn phòng để in các nhãn hàng hoá vì các nhãn hàng hoá đòi hỏi phải có những tiêu chuẩn công nghiệp rất khắc khe mà chỉ có công nghệ in nhãn chuyên nghiệp mới đảm trách nỗi (Xem thêm Máy in nhãn và Ribbon nhiệt)

  • Còn nếu bạn muốn in barcode lên thẻ nhựa như trong trường hợp thẻ nhân viên, thẻ hội viên thì bạn phải dùng đến công nghệ in thẻ (bao gốm 1 máy in thẻ và 1 phần mềm in thẻ có hỗ trợ barcode)

Cũng cần nói thêm rằng nếu bạn dùng các phần mềm không chuyên về barcode (như Corel) để in barcode thì bạn chỉ có thể in và xử lý barcode ở mức độ cơ bản. Thí dụ bạn sẽ không in được các loại barcode 2-D hoặc không nén được barcode bằng các tỷ lệ nén khác nhau.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐỌC ĐƯỢC MÃ VẠCH?

Để đọc được các ký hiệu mã vạch người ta dùng một loại thiết bị gọi là máy quét mã vạch (barcode scanner), thực chất chính là một loại đầu đọc quang học dùng chùm tia sáng hoặc tia laser. Nhiều bạn có ý tưởng là “viết một phần mềm để đọc mã vạch” nhưng tôi khuyên bạn không cần phải làm thế vì ngay trong máy barcode scanner đã có một phần mềm dưới dạng Firmware dùng để đọc đủ loại mã vạch. Nếu bạn thực sự muốn viết một phần mềm để đọc mã vạch thì trước hết bạn phải mua cho được một máy quét dùng cổng COM thường là loại máy quét không có bộ giải mã bên trong.

Khi nhìn vào một ký hiệu mã vạch trên 1 món hàng, có khi ta thấy 1 dãy số nằm ngay bên dưới ký hiệu mã vạch đó nhưng cũng có khi không có gì cả. Dãy số này chính là mã số mà ký hiệu mã vạch đã mã hoá. Vấn đề có mã số hay không có mã số là do phần mềm in mã vạch tạo ra giúp cho con người có thể nhận dạng được bằng mắt thường, nó chỉ quan trọng đối với con người chứ không quan trọng đối với máy vì máy không hiểu được các con số này mà chỉ có thể đọc được chính bản thân các ký hiệu mã vạch. Do đó, để máy quét có thể đọc được mã vạch tốt thì khi in ra, ký hiệu mã vạch phải rõ ràng, không mất nét, các vạch phải thẳng đứng không biến dạng.

Mã vạch sau khi quét sẽ được giải mã bằng 1 phần mềm để cho ra mã số ban đầu. Tùy theo công nghệ đang dùng và tùy theo loại máy quét, máy đọc mà phần mềm giải mã có thể là 1 phần mềm dưới dạng Firmware nằm ngay trong máy quét và có thể được hiển thị bằng các file văn bản thông thường như Notepad, Wordpad, hay là 1 phần mềm chuyên dụng kèm theo thiết bị hoặc do người sử dụng viết chương trình ứng dụng.

Các bạn thân mến ! hy vọng rằng với trang web này các bạn sẽ có được 1 khái niệm cơ bản nhất về mã vạch. Xin mời các bạn click vào mục Hỏi và Đáp để tìm hiểu thêm những vấn đề có liên quan đến mã vạch.

Một số thông tin chung

I - Một số thông tin chung.

Trong hệ thống mã số EAN cho sản phẩm bán lẻ có hai loại, một loại sử dụng 13 con số (EAN-13) và loại kia sử dụng 8 con số (EAN-8)

Mã số EAN-13 gồm 13 con số có cấu tạo như sau: từ trái sang phải

  • Mã quốc gia: hai hoặc ba con số đầu
  • Mã doanh nghiệp: có thể gồm từ bốn, năm hoặc sáu con số
  • Mã mặt hàng: có thể là năm, bốn hoặc ba con số tuỳ thuộc vào mã doanh nghiệp
  • Số cuối cùng là số kiểm tra

Để đảm bảo tính thống nhất và tính đơn nhất của mã số, mã quốc gia phải do tổ chức mã số vật phẩm quốc tế (EAN International) cấp cho các quốc gia là thành viên của tổ chức này. Mã số quốc gia của Việt nam là 893.

  • Mã doanh nghiệp (mã M) do tổ chức mã số vật phẩm quốc gia cấp cho các nhà sản xuất là thành viên của họ. Ở Việt nam, mã doanh nghiệp do EAN-VN cấp cho các doanh nghiệp thành viên của mình
  • Mã mặt hàng (mã I) do nhà sản xuất quy định cho hàng hoá của mình. Nhà sản xuất phải đảm bảo mỗi mặt hàng chỉ có một mã số, không được có bất kỳ sự nhầm lẫn nào.
  • Số kiểm tra C là một con số được tính dựa vào 12 con số trước đó, dùng để kiểm tra việc ghi đúng những con số nói trên

Từ năm 1995 đến tháng 3/1998, EAN-VN cấp mã M gồm bốn con số và từ tháng 3/1998, theo yêu cầu của EAN quốc tế, EAN-VN bắt đầu cấp mã M gồm 5 con số. Vì vậy, hiện nay mã EAN-13 của các doanh nghiệp Việt nam có hai dạng là: mã M gồm 5 con số và 4 con số.

II - Danh mục mã vạch của các nước là thành viên của Tổ chức mã vạch quốc tế (EAN)

00-13: USA&Canada

20-29: In-Store Functions

30-37: Pháp

40-44: Đức

45: Nhật Bản (& 49)

46: Liên bang Nga

471: Đài Loan

474: Estonia

475: Latvia

477: Lithuania

479: Sri Lanka

480: Philippines

482: Ukraine

484: Moldova

485: Armenia

486: Georgia

487: Kazakhstan

489: Hong Kong

49: Nhật Bản (JAN-13)

50: Vương Quốc Anh

520: Hi Lạp

528: Li Băng

529: Cyprus

531: Macedonia

535: Malta

539: Ai Len

54: Bỉ và Lúc xăm bua

560: Bồ Đào Nha

569: Ai xơ len

57: Đan Mạch

590: Ba Lan

594: Ru ma ni

599: Hungary

600 & 601: Nam Phi

609: Mauritius

611: Ma Rốc

613: An giê ri

619: Tunisia

622: Ai cập

625: Jordan

626: Iran

64: Phần Lan

690-692: Trung Quốc

70: Na uy

729: Israel

73: Thụy Điển

740: Guatemala

741: El Salvador

742: Honduras

743: Nicaragua

744: Costa Rica

746: Cộng hòa Đô mi nic

750: Mexico

759: Venezuela

76: Thụy Sỹ

770: Colombia

773: Uruguay

775: Peru

777: Bolivia

779: Ác hen ti na

780: Chi lê

784: Paraguay

785: Peru

786: Ecuador

789: Braxin

80 - 83: Italy

84: Tây Ban Nha

850: Cuba

858: Slovakia

859: Cộng hòa Séc

860: Yugloslavia

869: Thổ Nhĩ Kỳ

87: Hà Lan

880: Hàn Quốc

885: Thái Lan

888: Sing ga po

890: Ấn Độ

893: Việt Nam

899: In đô nê xi a

90 & 91: Áo

93: Australia

94: New Zealand

955: Malaysia

977: dãy số tiêu chuẩn quốc tế dùng cho ấn bản định kỳ/ International Standard Serial Number for Periodicals (ISSN)

978: Số tiêu chuẩn quốc tế dành cho sách/ International Standard Book Numbering (ISBN)

979: Số tiêu chuẩn quốc tế về sản phẩm âm nhạc/ International Standard Music Number (ISMN)

980: Refund receipts/ giấy biên nhận trả tiền

981 & 982: Common Currency Coupons/ phiếu, vé tiền tệ nói chung

Lịch sử về Barcode

Mã vạch là sự thể hiện thông tin trong các dạng nhìn thấy trên các bề mặt mà máy móc có thể đọc được. Nguyên thủy thì mã vạch lưu trữ dữ liệu theo bề rộng của các vạch được in song song cũng như của khoảng trống giữa chúng, nhưng ngày nay chúng còn được in theo các mẫu của các điểm, theo các vòng tròn đồng tâm hay chúng ẩn trong các hình ảnh. Mã vạch có thể được đọc bởi các thiết bị quét quang học gọi là máy đọc mã vạch hay được quét từ hình ảnh bằng các phần mềm chuyên biệt.

Nội dung của mã vạch là thông tin về sản phẩm như: Nước sản xuất, tên doanh nghiệp, lô, tiêu chuẩn chất lượng đăng ký, thông tin về kích thước sản phẩm, nơi kiểm tra…

Lịch sử
Năm 1932, một nhóm nhỏ các sinh viên khoa Quản Trị Kinh Doanh của trường Đại Học Hardvard Hoa Kỳ mà dẫn đầu là Wallace Flint, đã tiến hành một dự án đầy tham vọng. Dự án này đề xuất rằng, các khách hàng chọn lựa hàng hoá trong Catalog theo ý muốn bằng cách gỡ ra các thẻ có bấm lỗ tương ứng trong Catalog đó. Các thẻ có bấm lỗ này được chuyển đến cho người kiểm phiếu, người này đặt các thẻ vào trong một máy đọc. Khi ấy hệ thống sẽ rút hàng hoá trong kho 1 cách tự động và giao nó cho quầy tính tiền. Hoá đơn tính tiền được giao cho khách và hồ sơ thống kê hàng hoá sẽ được cập nhật.

Barcode ngày nay bắt đầu vào năm 1948. Bernard Silver, một sinh viên tốt nghiệp Học Viện Công Nghệ Drexel thuộc Bang Philadelphia, đã nghe lõm được vị Chủ tịch của một Liên hiệp sản xuất thức ăn dây chuyền địa phương (Local Food Chain) nhờ 1 trong Ban quản lý nhà trường đảm trách việc nghiên cứu phát triển một hệ thống tự động đọc các thông tin trong sản phẩm trong quá trình kiểm tra tính tiền. Silver đã kể cho bạn của ông ta là ông Norman Joseph Woodland về lời yêu cầu của vị Chủ tịch Liên Hiệp sản xuất thức ăn dây chuyền này. Woodland là một sinh viên tốt nghiệp đại học 27 tuổi và là giáo viên ở Drexel. Vấn đề này đã hấp dẫn Woodland và ông ta bắt đầu nghiên cứu về đề tài này.

Ý tưởng đầu tiên của Woodland là sử dụng các mẫu mực phát sáng dưới tia cực tím. Woodland và Silver đã tạo nên một dụng cụ làm việc được với các mẫu mực này, nhưng hệ thống gặp trở ngại với tính không ổn định của mực và chi phí in các mẫu còn cao. Woodland vẫn tin rằng họ đã có ý tưởng đúng.

Woodland mang theo một số tiền kiếm được nhờ thị trường chứng khoán, bỏ cả công việc giảng dạy ở Drexel và dọn đến ở với ông nội ở bang Florida để có nhiều thời gian hơn nghiên cứu về đề tài này.

Vào ngày 20/10/1949, Woodland và Silver đã lập thủ tục xin cấp bằng phát minh có tiêu đề là "Phương pháp và Dụng cụ phân loại". Các nhà phát minh đã mô tả phát minh của họ là có liên quan đến "nghệ thuật phân loại các món hàng.... thông qua các phương tiện nhận dạng mẫu".

Phần lớn lịch sử Barcode đều nói rằng barcode của 2 ông Silver và Woodland là ký hiệu "mắt bò", một loại ký hiệu được tạo thành bởi một loạt các vòng tròn đồng tâm. Trong khi Woodland và Silver đã mô tả 1 ký hiệu như vậy, thì người ta đã mô tả ký hiệu cơ bản của mã vạch là những mẫu vạch thẳng khá giống như loại barcode 1D ngày nay

Ký hiệu này được tạo ra từ một mẫu 4 vạch trắng trên một nền sậm. Vạch đầu tiên là vạch dữ liệu và vị trí của 3 vạch còn lại được ấn định có liên quan đến vạch đầu tiên. Thông tin được mã hoá theo sự "có" hoặc "không có" 1 hoặc vài vạch trong số các vạch này. Điều này cho phép có 7 sự phân loại hàng hoá khác nhau. Tuy nhiên các nhà phát minh lưu ý rằng nếu bổ sung thêm nhiều vạch hơn nữa thì sẽ mã hoá được nhiều chủng loại hơn. Với 10 vạch có thể mã hoá được 1023 chủng loại.

Đơn xin cấp bằng phát minh của Woodland và Silver được chấp thuận vào ngày 7/10/1952 là bằng phát minh thứ 2,612,994 của Hoa Kỳ.

Vào năm 1962, Silver mất ở tuổi 38 trước khi kịp trông thấy ứng dụng barcode trong thương mại. Woodland đã nhận giải Huân Chương Công Nghệ Quốc Gia 1992 được trao bởi Tổng thống Bush. Không phải người nào cũng khởi đầu một sự nghiệp 1 tỷ đô la bằng vào sáng kiến của họ.

Mãi cho đến năm 1966, barcode mới được thương mại hoá. Hiệp hội Quốc gia các Liên Hiệp sản xuất thức ăn dây chuyền (NAFC=The National Association of Food Chains) đã kêu gọi các nhà chế tạo các thiết bị cho các hệ thống thúc đẩy được quá trình kiểm chứng. Năm 1967, RCA đã lắp đặt một trong các hệ thống quét đầu tiên ở kho Kroger thuộc Cincinnati. Các code sản phẩm này được tượng trưng bằng các "barcode mắt bò", gồm 1 loạt các thanh tròn đồng tâm và các khoảng trống có bề rộng thay đổi. Các mã vạch này không được in trước trên bao bì của sản phẩm, mà được in lên nhãn và dán lên các món hàng bởi các công nhân của Kroger. Nhưng có những vấn đề rắc rối với mã RCA/Kroger. Người ta nhận thấy rằng ngành công nghiệp sẽ phải đồng ý về 1 hệ thống mã hoá tiêu chuẩn mở ra cho tất cả các nhà chế tạo thiết bị sử dụng và được tiếp nhận bởi tất cả các nhà buôn và các nhà sản xuất thực phẩm.

Năm 1969, NAFC đã nhờ công ty Logicon phát triển một đề án cho hệ thống mã vạch phổ biến trong công nghiệp. Kết quả là Phần 1 và phần 2 của Mã Nhận Dạng Vật Phẩm Phổ Biến (UGPIC=Universal Grocery Products Identification Code) đã ra đời vào mùa hè năm 1970. Dựa trên lời đề nghị trong bản tường trình của Logicon, Uỷ Ban Đặc Nhiệm Siêu Thị Hoa Kỳ về Mã vật phẩm độc nhất được hình thành. Ba năm sau đó Uỷ ban này đã đề nghị việc thông qua ký hiệu UPC mà ngày nay vẫn còn được sử dụng tại Hoa Kỳ. Ký hiệu này được IBM đệ trình và được phát triển bởi George Laurer, người đã có công làm lớn mạnh ý tưởng của Woodland và Silver. Woodland là 1 nhân viên của IBM thời bấy giờ.

Vào tháng 6/1974, một trong các máy quét UPC đầu tiên được chế tạo bởi hãng NCR (hồi ấy gọi là công ty National Cash Register), được lắp đặt tại siêu thị Marsh, ở Troy, bang Ohio. Vào ngày 26/6/1974 sản phẩm đầu tiên có mã vạch được quét tại quầy tính tiền. Đó là 1 phong kẹo cao su 10 miếng hiệu Wrigley's Juicy Fruit. Phong kẹo cao su này không có mẫu mã gì đặc biệt cả để trở thành sản phẩm được quét mã vạch đầu tiên. Nó chỉ tình cờ là món hàng đầu tiên được "bốc" lên từ trong chiếc xe đẩy của một người mua sắm nào đó mà tên của ông ta từ lâu đã bị quên lãng vào lịch sử. Ngày nay, thanh kẹo cao su này được trưng bày tại Viện Bảo Tàng Quốc Gia Lịch Sử Hoa Kỳ thuộc Học viện Smithsonian.

Đầu tiên thử nghiệm tại một ứng dụng công nghiệp về nhận dạng tự động đã bắt đầu vào cuối thập niên 1950 bởi Hiệp Hội Đường Sắt Châu Mỹ. Năm 1967, Hiệp Hội này đã thông qua một loại mã vạch quang học. Việc dán nhãn cho xe hơi và việc lắp đặt máy quét đã bắt đầu vào ngày 10/10/1967. Phải mất 7 năm trước khi 95% đoàn xe được dán nhãn. Vì nhiều lý do, hệ thống đơn giản đã không hoạt động và bị bỏ dỡ vào cuối những năm 1970.

Sự kiện mà thực sự đã đưa barcode vào các ứng dụng công nghiệp xảy ra vào ngày 1/9/1981 khi Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ chấp thuận việc sử dụng Code 39 để đánh dấu tất cả các sản phẩm bán cho quân đội Hoa Kỳ. Hệ thống này được gọi là LOGMARS.

Sự phát triển ký hiệu UPC

(Như vậy là vào năm 1992, Joe Woodland đã nhận được bằng Huân Chương Quốc Gia Công Nghệ về việc phát minh ra barcode.

Năm 1973, George J. Laurer là người đã phát triển ra loại barcode UPC và sau này được cải tiến thành EAN. Laurer đã viết về quá trình phát triển UPC như sau:)

Vào khoảng năm 1970, McKinsey & Co (1 công ty tư vấn) liên kết với UGPCC (Uniform Grocery Product Code Council = Hội mã vật phẩm độc nhất), một công ty được hình thành bởi Hiệp hội thương mại hàng đầu về công nghiệp thực phẩm, đã định ra một dạng thức số dùng để nhận dạng sản phẩm. Một yêu cầu đặt ra cho nhiều công ty là thực hiện một đề án về một bộ mã, một ký hiệu liên kết chặt chẽ đến bộ mã và những đặt điểm kỹ thuật cho cả hai. Yêu cầu này được gửi đến các công ty Singer, National Cash Register, Littion Industries, RCA, Pitney-Bowes, IBM và nhiều công ty lớn nhỏ khác.

Đa số những công ty khác đã có các mã quang học và thiết bị quét ở thị trường rồi, nhưng IBM thì không. Chính vì vậy vào năm 1971, ban lãnh đạo IBM đã giao cho tôi nhiệm vụ thiết kế ra một bộ mã và ký hiệu tốt nhất thích hợp cho ngành công nghiệp thực phẩm.

Sau khi xem xét, tôi đã nghĩ ra được 1 phương cách và đã chia cắt ký hiệu. Hồi ấy có 2 người khác cùng làm việc với tôi về mặt lý thuyết tính toán khả năng đọc và ghi chép đề án chính thức của công ty IBM đối với ngành công nghiệp.

Chúng tôi đã thực sự đệ trình 3 đề án mà mỗi đề án có những thay đổi nhỏ theo yêu cầu của UGPCC. Một đề án mở rộng dung lượng lên đến 11 ký số và một đề án khác là thiết kế 1 phiên bản "nén về Zero".

Tất cả các đối tác được yêu cầu trình diễn thiết bị của họ và có sự đánh giá của Học viện Battelle Memorial. Tôi đã có công thiết kế ra thiết bị của chúng tôi và đã nhận được vài bằng phát minh mô tả các phương pháp mà chúng tôi đã sử dụng trong việc "tìm tòi", giải mã và sửa lỗi.

Vào tháng 5/1973, đề án của IBM được chấp thuận. Những thay đổi duy nhất được thực hiện bởi UGPCC là loại Font được sử dụng để cho con người có thể đọc được và đặc tính tương phản về mực.

Các sự phát triển của UPC sau này

Sau sự chấp thuận về đặc tính kỹ thuật của mã UPC đầu tiên, tôi được yêu cầu tìm ra cách để thêm vào 1 ký số nữa. Ký hiệu đã có chứa được 12 ký số, UGPCC yêu cầu 11 ký số và 1 ký số kiểm tra mà tôi đã thêm vào để đạt được độ tin cậy cần thiết. Việc bổ sung ký số thứ 13 không đòi hỏi thiết bị phải có những thay đổi gì mở rộng. Hơn nữa, phiên bản quốc gia đầu tiên không thể sửa đổi được.

Ký số thêm vào sẽ cho phép việc "nhận dạng quốc gia" và làm cho UPC trở nên phổ biến khắp thế giới. Một lần nữa tôi đã tìm ra cách để thích ứng yêu cầu và ký hiệu EAN đã ra đời. Nhiều quốc gia đang sử dụng cùng ký hiệu với việc nhận dạng "mã" quốc gia (ký số thứ 13), nhưng đã chọn gọi ký hiệu này bằng các tên khác. Thí dụ như JAN (Japanese Article Numbering System), phiên bản của người Nhật. Ký hiệu này đã thực sự trở nên phổ biến toàn cầu.

Vào những năm từ 1973, tôi đã đề nghị và UPCC (The Uniform Product Code Council, Inc.), (trước đây là UGPCC) đã chấp thuận vài sự cải tiến khác. Trong số những cải tiến này là mã kiểm giá dùng trong nước và 1 ký số khác dùng cho thị trường Châu Âu. Cũng có một ký hiệu mở rộng là Version D của UPC mà chưa được thấy sử dụng phổ biến.

George J. Laurer - tư liệu từ Internet

Tóm tắt lịch sử từ Wiki

Ý tưởng về mã vạch được phát triển bởi Norman Joseph Woodland và Bernard Silver. Năm 1948 khi đang là sinh viên ở trường Đại học tổng hợp Drexel, họ đã phát triển ý tưởng này sau khi được biết mong ước của một vị chủ tịch của một công ty buôn bán đồ ăn là làm sao để có thể tự động kiểm tra toàn bộ quy trình. Một trong những ý tưởng đầu tiên của họ là sử dụng mã Morse để in những vạch rộng hay hẹp thẳng đứng. Sau đó, họ chuyển sang sử dụng dạng “điểm đen” của mã vạch với các vòng tròn đồng tâm. Họ đã gửi đến cơ quan quản lý sáng chế Mỹ 2,612,994 ngày 20 tháng 10 năm 1949 công trình Classifying Apparatus and Method (Thiết bị và phương pháp phân loại) để lấy bằng sáng chế. Bằng sáng chế đã được phát hành ngày 7 tháng 10 năm 1952.

Thiết bị đọc mã vạch đầu tiên được thiết kế và xây dựng bởi Woodland (khi đó đang làm việc cho IBM) và Silver năm 1952. Nó bao gồm một đèn dây tóc 500 W và một ống chân không nhân quang tử được sản xuất bởi RCA cho các phim có âm thanh (nó để in theo phương pháp quang học lên trên phim). Thiết bị này đã không được áp dụng trong thực tế: để có dòng điện đo được bằng các nghiệm dao động (oscilloscope) thì đèn công suất 500 W gần như đã làm cháy giấy có mẫu mã vạch đầu tiên của họ. Nó đã không được sản xuất đại trà. Năm 1962 họ bán sáng chế này cho công ty Philips, sau đó Philips lại bán nó cho RCA. Phát minh ra tia laser năm 1960 đã làm cho các thiết bị đọc mã vạch trở nên rẻ tiền hơn, và sự phát triển của mạch bán dẫn (IC) làm cho việc giải mã các tín hiệu thu được từ mã vạch có ý nghĩa thực tiễn. Đáng tiếc là Silver đã chết năm 1963 ở 38 tuổi trước khi có bất kỳ những gì thực tiễn thu được từ sáng chế này.

Năm 1972, cửa hàng Kroger ở Cincinnati thử nghiệm việc sử dụng đầu đọc mã vạch điểm đen, với sự trợ giúp của RCA. Không may là các mã vạch điểm đen rất dễ nhòe khi in, và thử nghiệm đã không thu được thành công nào đáng kể. Cùng thời gian đó, Woodland ở IBM đã phát triển mã vạch tuyến tính được chấp nhận vào ngày 3 tháng 4 năm 1973 như là Mã sản phẩm chung (tiếng Anh: Universal Product Code, hay UPC). Vào ngày 26 tháng 6 năm 1974, sản phẩm bán lẻ đầu tiên (gói 10 thanh kẹo cao su Juicy Fruit của Wrigley) đã được bán bằng cách sử dụng đầu đọc mã vạch tại siêu thị Marsh ở Troy, Ohio. (Gói kẹo cao su này hiện nay nằm trong Viện bảo tàng quốc gia Hoa Kỳ ở Smithsonian.)

Năm 1992, Woodland đã được trao tặng giải thưởng Huy chương công nghệ quốc gia bởi Tổng thống George H. W. Bush.

Năm 2004, Nanosys Inc. sản xuất mã vạch nano (nanobarcode) - sợi dây kích thước nano (10-9 m) chứa các phần khác nhau của Si và GexSi1-x.

Ngày nay, nhiều hãng lớn trên thế giới có chế tạo các thiết bị in ấn và đọc mã vạch như Datamax, Zebra, Toshiba, Metrologic và ngày càng cho ra đời nhiều sản phẩm hiện đại, hoàn thiện để phục vụ trong các lĩnh vực có ứng dụng mã vạch.

Bài viết này được trích dẫn từ “Wikipedia tiếng Việt”

Gây cảm tình bằng mã vạch

Mã vạch được trao trọng trách đó; vừa thuận tiện lại vừa không tốn diện tích trên bao bì, nếu so với việc cho in những hình comics hay một mẩu chuyện cười lên đấy. Hàng hóa không chỉ được đòi hỏi là phải có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, mà cần phải có một yếu tố gì đó kích thích mắt người mua, khiến họ thấy thích thú và thư giãn. Mắt bạn thường chỉ lướt ngang qua cái mã vạch trên một món hàng. Nhưng đó là chuyện xưa. Mã vạch ngày nay đẹp đẽ, tinh tế và có khả năng gây cảm tình đến mức bạn mua hàng chỉ vì thích cái mã vạch!

Hầu như chẳng ai thèm liếc nhìn mã vạch!

Mã vạch có xuất xứ từ Mỹ vào những năm 1970. Mỗi vạch và khoảng trắng đóng vai trò là “mật mã” cho các số và chữ. Mã vạch giúp việc nhận dạng hàng hóa và giá của nó nhanh chóng hơn, từ đó việc thanh toán cũng thuận tiện và chính xác hơn. Ngày nay, mỗi sản phẩm đủ tiêu chuẩn về chất lượng có mặt trên thị trường đều phải được in mã vạch trên bao bì.

Từ khi ra đời đến nay, mã vạch chủ yếu chỉ mang tính tiện dụng, chứ không có giá trị về tạo hình cho sản phẩm. Nói cách khác, nó là phần kém hấp dẫn nhất trên bao bì, chỉ gồm những sọc đen – trắng có độ dày mỏng khác nhau. Người mua hàng thường không thèm quan tâm đến sự tồn tại của chúng, và “kẻ” duy nhất tiếp xúc với mã vạch chính là máy soi tại quầy tính tiền.

Hai mẫu mã vạch in trên sản phẩm nước trái cây đóng hộp.

Nhưng mọi sự đổi khác khi mã vạch qua bàn tay người Nhật …

Giữa năm 2006, Design Barcode - một công ty thiết kế quảng cáo nhỏ tại Nhật đã đã đem lại cuộc sống mới cho mã vạch. Họ cho ra mắt mẫu mã vạch độc đáo có hình dáng miếng pho-mát, được in trên bao bì một sản phẩm bánh pizza đông lạnh. Mẫu mã vạch “pho mát” này đã thu hút sự chú y của các công ty quảng cáo và tư vấn tiếp thị trên thế giới, và giành giải Sư Tử Bạc tại Liên hoan Phim Quảng cáo Cannes Lion lần thứ 53 năm 2006.

Việc thiết kế ra một mã vạch theo phong cách mới vô cùng cầu kỳ. Nó phải đẹp đẽ và độc đáo. Đồng thời nó phải có đầy đủ thông số kỹ thuật và có thể được nhận dạng dễ dàng bởi máy soi như các mã vạch truyền thống. Nếu soi một mã vạch mới vào máy và tín hiệu phát ra là “Cái gì đây?”, thì các nhà thiết kế phải thực hiện lại công việc từ đầu.

Mã vạch trở nên điệu đà là điều tất yếu:

Sau cuộc chiến về chất lượng sản phẩm và giá cả, thì kiểu dáng hiện đang là “mặt trận” cạnh tranh khốc liệt của các thương hiệu. Cuộc sống con người càng giàu có thì họ càng chú trọng đến phần nhìn. Không chỉ là họ được nhìn ra sao mà đến cái được họ nhìn cũng được quan tâm triệt để. Đấy là nguyên nhân khiến các công ty đua nhau sử dụng chiêu “bình mới rượu cũ” – thay bao bì liên tục cho một sản phẩm. Khi thì ly được gắn hai tay cầm cho tiện dụng, khi thì hộp sữa giấy có “eo” để vừa tay người nắm … Sau một thời gian thay đổi, uốn nắn những chi tiết lớn và rồi … hết ý tưởng, thì việc mã vạch được đưa lên bàn tạo mẫu chỉ là chuyện sớm muộn.

Mẫu mã vạch in trên mì đóng hộp của công ty Thực Phẩm Calbee

Việc Nhật Bản là nước đầu tiên nghĩ đến chuyện làm đẹp cho mã vạch ít nhiều chịu ảnh hưởng bởi tình trạng hiện nay của nước này: Con người kiếm ra nhiều tiền nhưng lại thiếu thời gian để thư giãn, hay ít nhất là khiến bản thân cảm thấy thoải mái. Cuộc sống quay vòng giữa công việc và ngủ, chỉ có chút ít thời gian shopping những sản phẩm thiết yếu nhất. Thế là khoảng thời gian ngắn dành cho việc mua sắm được biến thành thời gian để mát-xa tâm trạng. Hàng hóa không chỉ được đòi hỏi là phải có chất lượng cao, mẫu mã đẹp, mà cần phải có một yếu tố gì đó kích thích mắt người mua, khiến họ thấy thích thú và thư giãn. Mã vạch được trao trọng trách đó; vừa thuận tiện lại vừa không tốn diện tích trên bao bì, nếu so với việc cho in những hình comics hay một mẩu chuyện cười lên đấy.

Hiện tại Design Barcode đã cho xuất xưởng hơn 200 mẫu mã vạch khác nhau, và trên thị trường Nhật Bản có hơn 20 công ty sử dụng những mã vạch “không đụng hàng” cho hơn 80 loại sản phẩm. Đa phần trong số đó là các mặt hàng lương thực thực phẩm, những thứ mà khách hàng sẽ sử dụng hết nhanh chóng và phải mua sắm thường xuyên – họ sẽ được refresh tinh thần thường xuyên, bất cứ khi nào đi siêu thị mua thức ăn chất cho cả tuần.

Khi Mỹ, các nước châu Âu và Trung Quốc đã xuất hiện các mặt hàng có mã vạch biến tấu thì Việt Nam chắc không nằm ngoài guồng này. Nhưng có thể khác với Nhật Bản một chút là thay vì nhắm vào tầng lớp khách hàng bận rộn, thì mã vạch “điệu” có lẽ sẽ xuất hiện đầu tiên trên các sản phẩm dành cho teen – vốn là tầng lớp khách hàng yêu thích những cái mới, nhiệt tình với những cái lạ và nhất là cực ham mua sắm.

Nguồn: Internet